TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
ĐẶC KHU HOÀNG SA
ĐẶC KHU HOÀNG SA
UỶ BAN BẦU CỬ

Cửa Sa Kỳ - Dấu chân người giữ biển

(Báo Quảng Ngãi)- Ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi, nơi đất liền khép lại để mở ra một không gian mênh mang của sóng nước, cửa biển Sa Kỳ hiện lên như một dấu gạch nối của lịch sử, giữa đất liền và biển, giữa ký ức và khát vọng.

Cửa Sa Kỳ mang trong mình một vẻ trầm mặc và chính nơi đây đã lưu giữ những dấu chân bền bỉ của người Quảng Ngãi trong hành trình hướng ra biển lớn. Từ những chuyến xuất quân của đội Hoàng Sa, đến nhịp sống giao thương, cùng với lớp trầm tích văn hóa mang dấu ấn của những “người giữ biển”.

Từ cửa biển lịch sử đến hành trình giữ chủ quyền

Trong “Địa chí Quảng Ngãi” có đoạn viết: Đường thủy từ thuở xưa rất quan trọng, nhưng không được chú ý ghi chép tỉ mỉ. Cuộc hành binh của vua Lê Thánh Tông đến Quảng Ngãi bằng đường thủy. Thời Lê Trung Hưng, Bùi Tá Hán vào lấy lại Thừa tuyên Quảng Nam từ tay nhà Mạc cũng bằng đường thủy.

Thời Tây Sơn, thủy chiến xảy ra rất nhiều lần với quân Nguyễn Ánh, trong đó có trận diễn ra trên địa phận Quảng Ngãi. Không chỉ về quân sự, về dân sự, việc dùng đường thủy cho việc vận chuyển, sinh hoạt kinh tế, văn hóa giữa các vùng thuận tiện hơn nhiều so với đường bộ vốn trắc trở, chủ yếu là bộ hành và đi ngựa.

Trong việc di dân Nam tiến, mở mang kinh tế, khai khẩn đất đai, việc giao thông đường thủy rất quan trọng khi ra vào các cửa biển ở Quảng Ngãi như Sa Cần, Cổ Lũy, Sa Huỳnh và tất nhiên không thể thiếu cửa biển Sa Kỳ.

Cư dân hai làng An Vĩnh, An Hải ở hai bên bờ Bắc, bờ Nam cửa biển Sa Kỳ đã ra đảo Lý Sơn, theo gia phả họ Phạm Văn ở làng Lý Vĩnh, đặc khu Lý Sơn cho biết thời điểm cụ thể là năm Hoằng Định thứ 9 (1609). Lục tộc (6 họ: Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Xuân, Võ Văn, Lê và Nguyễn) của làng An Vĩnh lập ra phường An Vĩnh; còn thất tộc (7 họ: Nguyễn, Trương, Dương, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Trần, Võ) của làng An Hải lập ra phường An Hải.

Tuy đã là các phường riêng, nhưng cho đến trước năm 1804, các phường An Vĩnh, An Hải trên đảo Lý Sơn vẫn còn phụ thuộc vào đất liền và chịu chung các nghĩa vụ ở làng quê gốc ở vùng cửa biển Sa Kỳ.

Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ngãi

Cửa biển Sa Kỳ, ở xã Đông Sơn. Ảnh: BÌNH VƯƠNG

Trong dòng chảy lịch sử, cửa biển Sa Kỳ không chỉ là một địa danh địa lý mà còn là một chứng tích sống động của chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, ghi chép: “Từ cửa biển Sa Kỳ ra khơi, thuận gió, đi 3, 4 ngày đêm có thể đến Hoàng Sa. Trên đảo nhiều núi la liệt, tất cả hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc 1 ngày đường hoặc vài trống canh. Giữa đảo có bãi cát vàng, bề dài kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là bãi Vạn Lý Trường Sa.

Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập nhiều, không biết bao nhiêu mà kể. Sản sinh nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, giải, ba ba, hàng hóa đồ vật của các thuyền bị phong nạn cũng tích tụ ở đó. Lúc mới lập quốc, Chúa Nguyễn đặt ra đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, mỗi năm cứ tháng 3 ra khơi lấy hải vật, tháng 8 trở về, qua cửa Tư Hiền dâng nạp. Lại đặt đội Bắc Hải, sai đội Hoàng Sa kiêm quản, đi ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải tìm lấy hải vật”.

Mỗi năm, vào khoảng tháng Ba âm lịch, đội Hoàng Sa rời bến, mang theo lương thực, niềm tin và cả những lời dặn dò từ đất liền. Đến tháng Tám, nếu bình an, họ trở về, mang theo sản vật và những thông tin quý giá từ các hòn đảo ngoài biển Đông.

Cửa biển Sa Kỳ vì thế trở thành nơi khởi đầu của những chuyến đi đầy hiểm nguy, đồng thời cũng là nơi chất chứa bao nỗi chờ mong. Những bước chân rời bến không chỉ là bước chân của người đi biển, mà là bước chân của lịch sử. Những con thuyền câu lênh đênh giữa đại dương mênh mông mang theo khát vọng lớn lao về gìn giữ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Quá trình giao thương qua cửa Sa Kỳ

Cửa Sa Kỳ còn là một mắt xích quan trọng trong hệ thống giao thương đường biển của khu vực miền Trung. Từ xa xưa, trong điều kiện còn hạn chế, khi đường bộ chưa phát triển, chính những chiếc ghe bầu đã trở thành phương tiện chủ lực vận chuyển hàng hóa và con người.

Sách “Quảng Thuận đạo sử tập” của Nguyễn Huy Quýnh viết từ năm 1785, ghi chép hệ thống các tuyến giao thông đường thủy ven biển từ Thuận Hóa đến Quảng Ngãi. Tư liệu này cho thấy sự tồn tại của các tuyến hàng hải kết nối từ đất liền ra đảo, trong đó khu vực cửa biển Sa Kỳ giữ vai trò là một điểm xuất phát quan trọng, gắn với hoạt động giao thông biển, khai thác hải sản và thực thi chủ quyền trên biển của cư dân địa phương từ rất sớm.

Từ các dòng sông như Trà Khúc, Trà Bồng, sông Vệ, hàng hóa từ miền núi và đồng bằng được đưa về cửa biển như Sa Kỳ, Cổ Lũy để trao đổi, buôn bán. Những sản vật quý như quế, trầm hương, kỳ nam, tơ lụa, gỗ quý... đem đến cửa Sa Kỳ rồi theo những chuyến ghe bầu vượt biển đến các vùng khác nhau. Ngược lại, các sản phẩm từ biển như cá, mắm, muối cũng từ Sa Kỳ tỏa đi từ Nam chí Bắc, góp phần hình thành nên những tuyến thương mại sôi động.

Theo các tài liệu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu di sản văn hóa biển Hàn Quốc, năm 2019: Ngoài các nguồn hàng như quế, trầm hương, kỳ nam, cau, sa nhân, gỗ quý, tơ lụa, từ thế kỷ 15 còn có đường là mặt hàng chủ đạo... được các thuyền ghe của người Chăm và sau này có sự tham gia hoặc thay thế của người Việt, người Hoa theo các tuyến sông Trà Khúc, sông Vệ, Trà Bồng mà đưa về cửa Cổ Lũy, cửa Sa Kỳ hoặc bến Vũng Tàu. Các nguồn hải sản, mắm, muối... theo các thuyền đánh cá hoặc từ các bến thuyền chợ đầu mối cũng tập kết về bến Vũng Tàu, bến Sa Kỳ, rồi chuyển lên các tàu lớn đưa đi các nơi.

Theo baoquangngai.vn


Chia sẻ nội dung này: